‘Đạo đức tốt hay xấu không liên quan đến tiền’

207

Nhiều người sẵn sàng kết tội người khác là ích kỷ chỉ vì họ không cho đi, giàu mà không làm từ thiện.

Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu các khái niệm liên quan tới “tiền”:

Tiền: là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Nếu hiểu theo nghĩa đơn giản nhất có thể thì tiền chính là một loại hàng hóa đặc biệt có giá trị trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ của con người. Tiền cũng tuân theo quy tắc của cung – cầu: tiền nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ sẽ dẫn tới lạm phát (giá tiền, sức mua của đồng tiền giảm xuống); tiền ít hơn hàng hóa, dịch vụ thì giá tiền cao, sức mua của đồng tiền tăng lên.

Thế nhưng, vẫn có những người phản đối quan điểm tiền là một loại hàng hóa, vì cho rằng ngay từ đầu, hàng hóa đổi lấy hàng hóa là cơ bản, và hoạt động đó chỉ phát sinh một giao dịch (đổi hàng lấy hàng của hai người). Nhưng khi xem tiền là một loại hàng hóa thì nó sẽ phát sinh tới hai giao dịch (đổi hàng lấy tiền, rồi lại dùng tiền đổi lấy hàng). Vậy, nên xem tiền là một loại giấy nợ đại diện cho một mối quan hệ nợ (người cầm tiền là cầm giấy đòi nợ). Dù tiền là gì đi nữa thì nó cũng là công cụ đo công (sức) lao động của con người nhưng giá trị này không có tính ổn định mà chịu sự tác động của hai chu trình:

– Lạm phát: lượng tiền tăng quá nhanh hay tốc độ quay vòng của tiền tăng lên trong khi sản lượng không thay đổi sẽ dẫn đến giá cả tăng lên. Sự mất cân bằng này sẽ làm tăng mức giá chung và người ta gọi đó là lạm phát. Tức là cùng một lượng tiền, hôm nay mua được một kg gạo, ngày mai chỉ còn mua được 0.5 kg gạo hoặc các mặt hàng khác có giá tăng theo thời gian.

– Giảm phát: khi lượng tiền giảm đi hay tốc độ quay vòng tiền giảm xuống trong khi sản lượng không đổi thì giá cả có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian. Lượng tiền giảm đi cũng có thể là do các biện pháp của ngân hàng quốc gia gây ra hay khi vận tốc quay vòng tiền giảm đi (khi người dân và doanh nghiệp hạn chế tiêu dùng và đầu tư hơn và tiền được tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng).

Cách thức hoạt động kinh tế của xã hội loài người:

1. Quy luật tổ chức kinh tế “kẻ đi săn và con mồi” hay “quy luật tổ chức bầy đàn”

Trong thế giới động vật: con bọ ngựa chỉ săn được sâu bướm, các sinh vật bọ cánh cứng nhỏ khác. Lớn hơn một chút là con cáo có thể săn thỏ, săn động vật gặm nhấm và chim chóc, gà rừng. Một con sói có thể săn được động vật gặm nhấm, chim chóc, gà rừng, hươu… Một đàn sói lớn liên kết lại có thể ngoài các động vật nhỏ có thể săn được các động vật lớn hơn như ngựa vằn, linh dương đầu bò, nai sừng tấm, tuần lộc.

Khi vào mùa khí hậu khắc nghiệt, thức ăn khan hiếm các con mồi lớn như nai sừng tấm, linh dương đầu bò, ngựa vằn… không còn hoặc quá hiếm hoi, thì đàn sói lớn sẽ tự tan rã thành các đàn sói nhỏ hơn, thậm chí từng cá thể độc lập. Nguyên nhân của sự tan rã chính là để đảm bảo thành quả của mỗi cuộc săn sẽ đủ chia phần và duy trì sự sinh tồn cho từng cá thể trong đàn. Việc duy trì một đàn lớn lúc này không hiệu quả vì các con mồi săn được rất nhỏ, không đủ chia phần cho các cá thể, bộ máy bầy đàn quá cồng kềnh nên khi chia phần thì các cá thể có địa vị thấp sẽ chẳng còn gì mà ăn.

Nhưng khi vào mùa săn lớn, có các con mồi xuất hiện chúng quần tụ lại thành các đàn săn lớn hơn để đảm bảo sức mạnh có thể săn được các con mồi lớn hơn. Đây gọi là quy luật “thịnh – suy” của tự nhiên.

Trong xã hội loài người: xã hội loài người dù có văn minh tới đâu cũng phải tổ chức theo mô hình kinh tế của xã hội nguyên thủy là “kẻ đi săn và con mồi”, mất cân bằng kinh tế giữa “kẻ đi săn” và “con mồi” là nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế. Một con người sức lực có hạn nên chỉ làm được các việc nhỏ, nhưng khi liên kết lại sẽ hình thành một tập thể, một tổ chức có thể làm được nhiều việc lớn hơn. Các hình thái kinh tế từ làm thuê, tự làm, tự cung, tự cấp, đến hình thức kinh tế quy mô hộ gia đình, hộ cá thể, tổ chức doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn, liên kết tập hợp kinh tế lớn gọi là Hội liên hiệp doanh nghiệp, đều là các hình thức tổ chức “đàn săn” của “kẻ đi săn” sao cho hiệu quả, phù hợp với mục đích kinh doanh, sản xuất của từng tổ chức.

Khi có các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra, thị trường thay đổi… thì cũng có hình thức tổ chức lại như thu nhỏ, sa thải nhân viên… để đảm bảo phù hợp với quy tắc tổ chức của “đàn sói” hay sự tương ứng của “kẻ đi săn và con mồi”, đảm bảo thành quả kinh tế có thể nuôi sống được các cá nhân trong tổ chức đó. Việc tổ chức đa dạng nền kinh tế như vậy người ta gọi là “nền kinh tế thị trường”.

Ngược lại với kinh tế thị trường là kinh tế tập trung bao cấp. Kinh tế bao cấp là kinh tế thống nhất tài sản, của cải trong xã hội về một đầu mối và chịu sự quản lý, phần chia từ đầu mối này. Đầu mối đó thường là cơ quan quyền lực cao nhất của xã hội đó. Kinh tế tập trung bao cấp phù hợp với các thiết chế xã hội cần sự trưng mua, trưng thu tài sản, của cải trong dân chúng cho những mục đích nhất định, ví dụ như cứu trợ, thiên tai, địch họa… Việc này đảm bảo phân phối tài sản, của cải của xã hội cho những mục đích đặc biệt quan trọng như phục vụ quân lương cho chiến tranh, lương thực cho dân chúng vùng cứu trợ khẩn cấp.

2. Quy luật tổ chức kinh tế “kim tự tháp”

Mô hình kinh tế tự cung tự cấp, quy mô cá thể chỉ giải quyết được các nhu cầu cơ bản như ăn, uống, ngủ nghỉ… Nhưng để tổ chức hiệu quả theo mô hình quy luật kinh tế “kẻ đi săn và con mồi” thì việc phân công, phân cấp đã trở nên rõ ràng. Từ đó cho phép xã hội loài người có thể giải quyết được các bài toán lớn hơn về tăng năng suất và tập trung cho các công việc to lớn hơn ví dụ như tổ chức giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu, quản lý xã hội, khoa học, bảo vệ lãnh thổ quốc gia…

Như vậy ở tầng dưới đáy của kim tự tháp thì các công việc này, các tầng lớp dưới này sẽ củng cố vững chắc cho các tầng lớp xã hội ở bên trên. Nếu mất cần băng bằng thì kim tự tháp xã hội này sẽ sụp đổ. Độ rộng lớn, vững chắc của tầng đáy sẽ củng cố vững chắc các tầng lớp bên trên. Ngược lại, độ suy yếu của tầng lớp bên dưới sẽ làm sụp đổ các tầng lớp bên trên. Thấy rõ nhất là nông dân và hệ thống sản xuất hàng hóa tiêu dùng sẽ ở bên dưới tầng đáy này.

Tiền vốn là “giấy ghi nợ” không thể ăn được hay tiêu dùng được. Để đảm bảo có giá trị và có thể “thu hồi được nợ” thì phải được đảm bảo bằng hàng hóa của tầng lớp dưới đáy này tạo ra. Thành quả kinh tế của tầng lớp dưới đáy này sẽ quyết định sự ổn định hay sụp đổ của tầng lớp bên trên, thông qua việc quyết định giá trị của “giấy nợ” mang tên tiền. Trong các xã hội hiện đại thì việc bảo vệ tầng lớp bên dưới này sẽ quyết định tới giá trị và sự tồn vong của xã hội hiện đại. Vì không một kim tự tháp nào có thể tồn tại mà thiếu phần đáy. Các xã hội phương Tây sẽ chi tiền để bảo vệ tầng lớp nông dân và hệ thống sản xuất hàng hóa trước tiên rồi mới tới việc duy trì các dịch vụ bên trên.

Tầng lớp bên trên của kim tự tháp xã hội chủ yếu sống bằng dịch vụ. Họ đổi lấy dịch vụ hàng hóa không trự tiếp tiêu dùng lấy các giấy nợ (tiền) rồi đi quy đổi nó thành các hàng hóa có thể tiêu dùng cá nhân. Đối với một xã hội được tổ chức tốt thì các tầng lớp bên trên sẽ luôn ý thức được việc bảo vệ các tầng lớp bên dưới và hệ thống sản xuất hàng hóa bên dưới có yếu tố quyết định sống còn và giá trị của cải, công việc mà họ đang làm nên họ sẽ mạnh tay cứu trợ, chi tiền để bảo vệ.

Với xã hội tiên tiến các bạn sẽ không thấy lạ khi các tỷ phú, doanh nhân chi hàng tỷ đồng, tỷ đôla giải cứu các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, nông dân, không chỉ phải vì đạo đức mà là trực tiếp bảo vệ tài sản, công ty, tổ chức của họ. Ví dụ dễ thấy nhất cho mô hình kinh tế này là sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn. Khu vực thành phố hiện đại thường không sản xuất hàng hóa nhưng lại sống tốt bằng dịch vụ. Còn khu vực nông thôn, nông nghiệp thường là đích đến của các giấy nợ mang tên tiền nhưng lúc này thường chịu lạm phát.

Các bạn sẽ không lạ lẫm khi trên thế giới này sẽ luôn xuất hiện các khu “ổ chuột” bên cạnh cách thành phố, khu dân cư siêu giàu, siêu sang. Bởi vì cuộc sống của các thành phố siêu giàu, siêu sang sẽ đẩy tốc độ lạm phát tăng cao nhất, phi mã nhất (người giàu sẵn sàng bỏ nhiều tiền hơn cho những món đồ ít giá trị sử dụng nhưng xa lạ). Ở gần thành phố thì tốc độ lạm phát sẽ tác động lớn hơn hàng hóa tiêu dùng sẽ có giá trị cao, trong khi đó người giàu ở thành phố bên cạnh sẽ có xu hướng bỏ qua, hạn chế tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ quá quen thuộc nên giá trị của chúng không theo kịp tốc độ lạm phát ở đó.

Nhưng những khu vực sản xuất hàng hóa xa lạ có giá trị mới có thể chen chân vào đây sẽ nhanh chóng giàu có lên. Ví dụ điển hình là người giàu sẵn sàn chi hàng triệu đồng cho những lọ thực phẩm chức năng có cũng được mà không có cũng được (giá trị sử dụng không cao) và gà rán, thức ăn nhanh thương hiệu nước ngoài có giá trị cao nhưng lại không trả giá cao cho các đồ ăn uống cần thiết (liên quan trực tiếp tới sự sống) hằng ngày như trái cây, nông sản trong nước.

Thánh Tuệ